Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

Hai sắc hoa tigôn

T.T.Kh.

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn 
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn, 
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc, 
Tôi chờ người đến với yêu đương. 

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng 
Dải đường xa vút bóng chiều phong, 
Và phương trời thẳm mờ sương, cát, 
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng. 

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi, 
Thở dài trong lúc thấy tôi vui, 
Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ, 
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!” 

Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì 
Cánh hoa tan tác của sinh ly, 
Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng 
Là chút lòng trong chẳng biến suy” 

Đâu biết lần đi một lỡ làng, 
Dưới trời đau khổ chết yêu đương. 
Người xa xăm quá! - Tôi buồn lắm, 
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường... 

Từ đấy, thu rồi, thu lại thu, 
Lòng tôi còn giá đến bao giờ 
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ... 
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ. 

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời 
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi, 
Mà từng thu chết, từng thu chết, 
Vẫn giấu trong tim bóng “một người”. 

Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết 
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa 
Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ. 
Và đỏ như màu máu thắm pha! 

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi 
Một mùa thu trước rất xa xôi... 
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã, 
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi! 

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ, 
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu 
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng, 
Người ấy sang sông đứng ngóng đò. 

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng, 
Trời ơi! Người ấy có buồn không? 
Có thầm nghĩ tới loài hoa... vỡ 
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

Bài thơ đã được các nhạc sĩ Anh Bằng và Trần Thiện Thanh phổ nhạc. Về xuất xứ của bài thơ, xin xem các bình luận trong phần tác giả T.T.Kh. 



Cửu biệt ly 久別離 • Xa cách lâu

Lý Bạch

  


Cửu biệt ly 

Biệt lai kỷ xuân vị hoàn gia, 
Ngọc song ngũ kiến anh đào hoa. 
Huống hữu cẩm tự thư, 
Khai giam sử nhân ta. 
Chí thử trường đoạn bỉ tâm tuyệt, 
Vân hoàn lục mấn bãi sơ kết, 
Sầu như hồi phiêu loạn bạch tuyết. 
Khứ niên ký thư báo Dương Đài, 
Kim niên ký thư trùng tương thôi. 
Đông phong hề đông phong 
Vị ngã xuy hành vân sử tây lai 
Đãi lai cánh bất lai! 
Lạc hoa tịch tịch uỷ thương đài.

Dịch nghĩa 

Từ chàng ra đi đã mấy xuân không về, 
Trước cửa ngọc đã năm lần thấy hoa anh đào nở. 
Huống lại có thư chữ gấm, 
Mở ra khiến lòng đau xót. 
Tóc mây quên bện, tóc mai biếng tết, 
Buồn như cơn gió thổi tung tuyết trắng. 
Năm trước đã gửi thư nhắn chốn Dương Đài, 
Năm nay lại gửi thư giục giã, 
Gió đông chừ gió đông! 
Hãy vì ta thổi mây bay về tây, 
Đợi hoài mà vẫn chưa thấy người về, 
Hoa rơi lặng lẽ phủ rêu xanh.





Hoa phi hoa 花非花 • Hoa không phải là hoa

Bạch Cư Dị

  


Hoa phi hoa 

Hoa phi hoa, 
Vụ phi vụ. 
Dạ bán lai, 
Thiên minh khứ. 
Lai như xuân mộng kỷ đa thời, 
Khứ tự triêu vân vô mịch xứ!

Dịch nghĩa 

Rằng hoa, thì không phải là hoa, 
Rằng mây, thì không phải là mây. 
Nửa đêm tới, 
Sáng hôm sau lại đi mất. 
Khi đến thì như giấc mộng xuân không được bao lâu, 
Khi đi thì như mây trời không biết đâu mà tìm lại được.











Tống biệt (Há mã ẩm quân tửu) 送別(下馬飲君酒) • Tiễn bạn (Xuống ngựa uống chén rượu)

Vương Duy


  


Tống biệt (Há mã ẩm quân tửu) 

Há mã ẩm quân tửu, 
Vấn quân hà sở chi? 
Quân ngôn bất đắc ý: 
Quy ngoạ Nam Sơn thuỳ. 
Đãn khứ mạc phục vấn, 
Bạch vân vô tận thì!

Dịch nghĩa 

Xuống ngựa uống chén rượu tiễn bạn 
Hỏi bạn đi về đâu 
Bạn nói rằng không được vừa ý 
Về nhà ở mé Chung Nam sơn ngủ quên đời 
Thôi thì bạn cứ đi tôi chẳng hỏi nữa 
Mây trắng bay mãi không bao giờ hết


Bài thơ này làm khi đưa Mạnh Hạo Nhiên lên đường về ẩn cư ở núi Chung Nam. 



Tương tư 相思 • Tương tư

Vương Duy

  


Tương tư 

Hồng đậu sinh nam quốc
Xuân lai phát kỷ chi. 
Nguyện quân đa thái hiệt, 
Thử vật tối tương ti (tư).

Dịch nghĩa 

Đậu đỏ sinh ở phương nam, 
Mùa xuân đến, nẩy bao nhiêu cành. 
Xin chàng hãy hái cho nhiều, 
Vật ấy rất gợi tình tương tư.


Hồng đậu có hột hình tròn, màu sắc tươi hồng, hình dạng đáng yêu, thường làm trang sức trên mái tóc phụ nữ. Người xưa lấy cây này biểu tượng cho tình yêu nên mới có tên là cây "tương tư". 




Tại sao người Trung Hoa cho rằng “rồng” và “phượng” mang đến may mắn và tốt lành? Thì ra là ý nghĩa này…

Trong văn hóa Trung Hoa, hai hình tượng được nhìn thấy nhiều nhất là “rồng và phượng”, “trẻ con và cá chép”. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, những hình ảnh này vẫn còn tồn tại và được lưu giữ ở khắp nơi trong cuộc sống người dân Trung Hoa. Trong các buổi lễ lớn, các lễ hội quan trọng, ngày kỷ niệm, lễ cầu nguyện, lễ sinh nhật, ngày cưới hay ngay cả trong đám tang của người dân đất nước này đều có mặt những hình ảnh ấy. Vậy chúng có ý nghĩa gì đặc biệt?
Từ hoàng cung cho đến những người dân bình thường, chúng ta có thể bắt gặp những hình ảnh rồng và phượng được trang trí ở khắp mọi nơi như tường rào, cửa sổ hay ngay cả trên mái nhà và gạch ngói. Đồ dùng hàng ngày, chén đĩa, dụng cụ học hành, quần áo, giày dép, mũ và đồ chơi cũng có thể được trang trí với những hình ảnh này.

Rồng và phượng

Rồng và phượng thường xuất hiện với hình ảnh đang bay lượn xung quanh một viên ngọc lớn
Sự kết hợp giữa rồng và phượng chính là hình ảnh thường được thấy nhất trong các hình tượng may mắn và chúng thường xuất hiện với hình ảnh đang bay lượn xung quanh một viên ngọc lớn.
Trong văn hóa truyền thống của Trung Quốc, rồng tượng trưng cho quyền lực và là vua dưới nước. Rồng có thể tạo mây và mưa để đem lại những vụ mùa tươi tốt và trong mắt con người, rồng chính là một hình tượng Thần linh thiêng và tốt lành.
Phượng đứng đầu các loài chim, có đầu mang hình dáng của gà trống, thân giống như vịt Bắc Kinh và có đuôi của chim công. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp và sự hòa bình, và còn là sự hồi sinh của hạnh phúc và tốt lành.

Trẻ con và cá chép

Trẻ con và cá chép (ảnh: Internet)
Một biểu tượng may mắn cát tường khác mà chúng ta thường thấy đó là một đứa trẻ tay cầm hoa sen và ôm lấy một con cá chép lớn. Trong tiếng Trung, ngư và dư và liên (mang nghĩa hoa sen) và liên (trong từ liên nối) là các cặp từ đồng âm, chúng được dùng để thể hiện cuộc sống dư giả, sung túc và mọi việc luôn được suôn sẻ. Trong các ngày lễ hội đầu năm, mọi người sẽ treo những hình ảnh này lên để thể hiện ước muốn có được sự hạnh phúc và thịnh vượng.

Lòng đố kỵ không chỉ hại người khác mà còn hại bản thân mình

Khang Hy là một trong những vị hoàng đế được kính nể nhất lịch sử Trung Quốc. Ông từng nói rằng: “Bất kì ai trong chúng ta đều là một phần của xã hội, vậy nên cần có sự rộng lượng. Nghĩa là, nên cảm thấy hạnh phúc khi những người khác sống thoải mái và biết cảm thông khi cuộc sống của họ gặp khó khăn. Người có sự rộng lượng không chỉ tốt cho chính mình mà còn được trời cao ban phước.”
Tuy nhiên, không phải ai cũng mang trong mình tấm lòng khoáng đạt và rộng lượng. Thay vào đó, một số người có thể cảm thấy không thoải mái khi ai đó tốt hơn họ. Vì đố kỵ, họ có thể buộc tội sai lầm hoặc làm hại người khác. Và hành xử như vậy cuối cùng sẽ tự hại chính họ. Dưới đây là hai câu chuyện minh chứng cho điều này.

Lòng đố kỵ giết chết tình bạn

Tôn Tẫn lừng danh khắp các nước chư hầu, tác phẩm quân sự nổi tiếng “Binh pháp Tôn Tử” còn được lưu truyền mãi đến ngày nay. 
Tôn Tẫn là một trong những vị tướng vĩ đại nhất Trung Quốc sống cách đây khoảng 2000 năm. Ông và Bàng Quyên cùng học binh pháp của học giả nổi tiếng Quỷ Cốc tiên sinh, sau đó hai người cùng trở thành tướng quân cho nhà Ngụy.  Biết rằng Tôn Tẫn sẽ cầm quân giỏi hơn mình, và với sự ghen tị mù quáng, Bàng Quyên đã vu khống người bạn thân của mình, buộc tội ông là tội phạm quốc gia và cắt đi đầu gối, hủy hoại tiền đồ của Tôn Tẫn.
May mắn thay, tướng quân nước Tề là Điền Kỵ đã bí mật đến ứng cứu Tôn Tẫn và đưa ông về nước Tề. Biết được tài quân sự của Tôn Tẫn, Vua Tề đã chỉ định ông trở thành đại tướng quân và dẫn đầu quân đội cùng tướng Điền Kỵ.
Qủa nhiên, Tôn Tẫn đã sớm chứng tỏ được những kỹ năng quân sự tuyệt vời của mình. Khi quân Ngụy xâm chiếm nước Triệu, Tôn Tẫn đã ra lệnh cho quân đội tấn công thủ đô của nước Ngụy thay vì bảo vệ nước Triệu. Kế sách này rất hiệu quả và nó đã trở thành một điển tích trong lịch sử quân sự Trung Quốc, thường được gọi là “vây Ngụy cứu Triệu.”
Bàng Quyên thắp đuốc và tìm thấy một mảng lớn của thân cây có khắc dòng chữ “Bàng Quyên tất chết dưới cái cây này!”
Năm 342 TCN, Bàng Quyên lại dẫn quân sang đánh nước Hàn, nước Hàn phải sang cầu viện nước Tề, bấy giờ Tôn Tẫn lại dùng kế như trước, không trực tiếp sang giải vây cho nước Hàn, mà dẫn quân đánh thẳng vào thủ đô nước Ngụy, Bàng Quyên lại phải rút quân về cứu, nhưng khi về đến nơi thì quân Tề đã bỏ đi từ lâu. Bàng quyên bị Tôn Tẫn hai phen chọc tức liền ra lệnh truy kích.
Để đánh lừa Bàng Quyên, Tôn Tẫn đã dùng kế “Cắm trại giảm lò bếp” để dụ địch, khiến Bàng Quyên nhầm tưởng quân Tề đào ngũ rất đông, nên đuổi thẳng một mạch đến thung lũng Mã Lăng. Bấy giờ trời đã tối, bỗng nghe quân lính đến báo phía trước bị gỗ đổ chắn lối, Bàng Quyên vội vàng đến xem thì quả nhiên không có lối đi, trước mặt còn một cây gốc chưa bị chặt trên viết mấy chữ “Bàng Quyên tất chết dưới gốc cây này”.
Bàng Quyên thấy vậy sửng sốt liền hô quân lui trở ra thì đã quá muộn. Bấy giờ tên đạn từ bốn bề bắn xuống như mưa, tiếng hò reo dậy đất, Bàng Quyên bị trúng tên chết, toàn bộ quân Ngụy đều bị tiêu diệt.  
Sự đố kỵ và tàn nhẫn của Bàng Quyên đã tiếp diễn cho đến phút cuối cùng của cuộc đời ông ta. Chính thái độ này đã làm hại những người khác và cũng mang tới một kết thúc bi thảm cho chính cuộc đời của Bàng Quyên.