Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

Tương tư 相思 • Tương tư

Vương Duy

  


Tương tư 

Hồng đậu sinh nam quốc
Xuân lai phát kỷ chi. 
Nguyện quân đa thái hiệt, 
Thử vật tối tương ti (tư).

Dịch nghĩa 

Đậu đỏ sinh ở phương nam, 
Mùa xuân đến, nẩy bao nhiêu cành. 
Xin chàng hãy hái cho nhiều, 
Vật ấy rất gợi tình tương tư.


Hồng đậu có hột hình tròn, màu sắc tươi hồng, hình dạng đáng yêu, thường làm trang sức trên mái tóc phụ nữ. Người xưa lấy cây này biểu tượng cho tình yêu nên mới có tên là cây "tương tư". 




Tại sao người Trung Hoa cho rằng “rồng” và “phượng” mang đến may mắn và tốt lành? Thì ra là ý nghĩa này…

Trong văn hóa Trung Hoa, hai hình tượng được nhìn thấy nhiều nhất là “rồng và phượng”, “trẻ con và cá chép”. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, những hình ảnh này vẫn còn tồn tại và được lưu giữ ở khắp nơi trong cuộc sống người dân Trung Hoa. Trong các buổi lễ lớn, các lễ hội quan trọng, ngày kỷ niệm, lễ cầu nguyện, lễ sinh nhật, ngày cưới hay ngay cả trong đám tang của người dân đất nước này đều có mặt những hình ảnh ấy. Vậy chúng có ý nghĩa gì đặc biệt?
Từ hoàng cung cho đến những người dân bình thường, chúng ta có thể bắt gặp những hình ảnh rồng và phượng được trang trí ở khắp mọi nơi như tường rào, cửa sổ hay ngay cả trên mái nhà và gạch ngói. Đồ dùng hàng ngày, chén đĩa, dụng cụ học hành, quần áo, giày dép, mũ và đồ chơi cũng có thể được trang trí với những hình ảnh này.

Rồng và phượng

Rồng và phượng thường xuất hiện với hình ảnh đang bay lượn xung quanh một viên ngọc lớn
Sự kết hợp giữa rồng và phượng chính là hình ảnh thường được thấy nhất trong các hình tượng may mắn và chúng thường xuất hiện với hình ảnh đang bay lượn xung quanh một viên ngọc lớn.
Trong văn hóa truyền thống của Trung Quốc, rồng tượng trưng cho quyền lực và là vua dưới nước. Rồng có thể tạo mây và mưa để đem lại những vụ mùa tươi tốt và trong mắt con người, rồng chính là một hình tượng Thần linh thiêng và tốt lành.
Phượng đứng đầu các loài chim, có đầu mang hình dáng của gà trống, thân giống như vịt Bắc Kinh và có đuôi của chim công. Nó tượng trưng cho vẻ đẹp và sự hòa bình, và còn là sự hồi sinh của hạnh phúc và tốt lành.

Trẻ con và cá chép

Trẻ con và cá chép (ảnh: Internet)
Một biểu tượng may mắn cát tường khác mà chúng ta thường thấy đó là một đứa trẻ tay cầm hoa sen và ôm lấy một con cá chép lớn. Trong tiếng Trung, ngư và dư và liên (mang nghĩa hoa sen) và liên (trong từ liên nối) là các cặp từ đồng âm, chúng được dùng để thể hiện cuộc sống dư giả, sung túc và mọi việc luôn được suôn sẻ. Trong các ngày lễ hội đầu năm, mọi người sẽ treo những hình ảnh này lên để thể hiện ước muốn có được sự hạnh phúc và thịnh vượng.

Lòng đố kỵ không chỉ hại người khác mà còn hại bản thân mình

Khang Hy là một trong những vị hoàng đế được kính nể nhất lịch sử Trung Quốc. Ông từng nói rằng: “Bất kì ai trong chúng ta đều là một phần của xã hội, vậy nên cần có sự rộng lượng. Nghĩa là, nên cảm thấy hạnh phúc khi những người khác sống thoải mái và biết cảm thông khi cuộc sống của họ gặp khó khăn. Người có sự rộng lượng không chỉ tốt cho chính mình mà còn được trời cao ban phước.”
Tuy nhiên, không phải ai cũng mang trong mình tấm lòng khoáng đạt và rộng lượng. Thay vào đó, một số người có thể cảm thấy không thoải mái khi ai đó tốt hơn họ. Vì đố kỵ, họ có thể buộc tội sai lầm hoặc làm hại người khác. Và hành xử như vậy cuối cùng sẽ tự hại chính họ. Dưới đây là hai câu chuyện minh chứng cho điều này.

Lòng đố kỵ giết chết tình bạn

Tôn Tẫn lừng danh khắp các nước chư hầu, tác phẩm quân sự nổi tiếng “Binh pháp Tôn Tử” còn được lưu truyền mãi đến ngày nay. 
Tôn Tẫn là một trong những vị tướng vĩ đại nhất Trung Quốc sống cách đây khoảng 2000 năm. Ông và Bàng Quyên cùng học binh pháp của học giả nổi tiếng Quỷ Cốc tiên sinh, sau đó hai người cùng trở thành tướng quân cho nhà Ngụy.  Biết rằng Tôn Tẫn sẽ cầm quân giỏi hơn mình, và với sự ghen tị mù quáng, Bàng Quyên đã vu khống người bạn thân của mình, buộc tội ông là tội phạm quốc gia và cắt đi đầu gối, hủy hoại tiền đồ của Tôn Tẫn.
May mắn thay, tướng quân nước Tề là Điền Kỵ đã bí mật đến ứng cứu Tôn Tẫn và đưa ông về nước Tề. Biết được tài quân sự của Tôn Tẫn, Vua Tề đã chỉ định ông trở thành đại tướng quân và dẫn đầu quân đội cùng tướng Điền Kỵ.
Qủa nhiên, Tôn Tẫn đã sớm chứng tỏ được những kỹ năng quân sự tuyệt vời của mình. Khi quân Ngụy xâm chiếm nước Triệu, Tôn Tẫn đã ra lệnh cho quân đội tấn công thủ đô của nước Ngụy thay vì bảo vệ nước Triệu. Kế sách này rất hiệu quả và nó đã trở thành một điển tích trong lịch sử quân sự Trung Quốc, thường được gọi là “vây Ngụy cứu Triệu.”
Bàng Quyên thắp đuốc và tìm thấy một mảng lớn của thân cây có khắc dòng chữ “Bàng Quyên tất chết dưới cái cây này!”
Năm 342 TCN, Bàng Quyên lại dẫn quân sang đánh nước Hàn, nước Hàn phải sang cầu viện nước Tề, bấy giờ Tôn Tẫn lại dùng kế như trước, không trực tiếp sang giải vây cho nước Hàn, mà dẫn quân đánh thẳng vào thủ đô nước Ngụy, Bàng Quyên lại phải rút quân về cứu, nhưng khi về đến nơi thì quân Tề đã bỏ đi từ lâu. Bàng quyên bị Tôn Tẫn hai phen chọc tức liền ra lệnh truy kích.
Để đánh lừa Bàng Quyên, Tôn Tẫn đã dùng kế “Cắm trại giảm lò bếp” để dụ địch, khiến Bàng Quyên nhầm tưởng quân Tề đào ngũ rất đông, nên đuổi thẳng một mạch đến thung lũng Mã Lăng. Bấy giờ trời đã tối, bỗng nghe quân lính đến báo phía trước bị gỗ đổ chắn lối, Bàng Quyên vội vàng đến xem thì quả nhiên không có lối đi, trước mặt còn một cây gốc chưa bị chặt trên viết mấy chữ “Bàng Quyên tất chết dưới gốc cây này”.
Bàng Quyên thấy vậy sửng sốt liền hô quân lui trở ra thì đã quá muộn. Bấy giờ tên đạn từ bốn bề bắn xuống như mưa, tiếng hò reo dậy đất, Bàng Quyên bị trúng tên chết, toàn bộ quân Ngụy đều bị tiêu diệt.  
Sự đố kỵ và tàn nhẫn của Bàng Quyên đã tiếp diễn cho đến phút cuối cùng của cuộc đời ông ta. Chính thái độ này đã làm hại những người khác và cũng mang tới một kết thúc bi thảm cho chính cuộc đời của Bàng Quyên.

Thuỳ lão biệt 垂老別 • Cuộc chia ly lúc về già

Đỗ Phủ » Lưu vong làm quan (756-759)

  


Thuỳ lão biệt 

Tứ giao vị ninh tĩnh, 
Thuỳ lão bất đắc an. 
Tử tôn trận vong tận, 
Yên dụng thân độc hoàn? 
Đầu trượng xuất môn khứ? 
Đồng hành vị tân toan. 
Hạnh hữu nha xỉ tồn, 
Sở bi cốt tuỷ can. 
Nam nhi ký giới trụ, 
Trường ấp biệt thượng quan. 
Lão thê ngoạ lộ đề, 
Tuế mộ y thường đan. 
Thục tri thị tử biệt? 
Thả phục thương kỳ hàn. 
Thử khứ bất tất quy, 
Hoàn văn khuyến gia xan. 
Thổ Môn bích thậm kiên, 
Hạnh viên độ diệc nan. 
Thế dị Nghiệp Thành hạ, 
Tùng tử thời do khoan. 
Nhân sinh hữu ly hợp, 
Khởi trạch suy thịnh đoan? 
Ức tích thiếu tráng nhật, 
Trì hồi cánh trường than. 
Vạn quốc tận chinh thú, 
Phong hoả bị cương loan. 
Tích thi thảo mộc tinh, 
Lưu huyết xuyên nguyên đan. 
Hà hương vi lạc thổ, 
An cảm thượng bàn hoàn. 
Khí tuyệt bồng thất cư, 
Tháp nhiên tồi phế can.

Dịch nghĩa 

Bốn phương chưa ổn định 
Thân về già cũng chẳng được yên 
Con cháu chết trận hết 
Một mình sống để làm gì? 
Quẳng gậy ra cửa đi 
Bạn đồng hành cũng lấy làm chua xót 
May hàm răng vẫn còn 
Thương nỗi tuỷ xương đã khô kiệt! 
Thân trai đã mặc đồ giáp trụ 
Vái dài từ biệt quan trên 
Vợ già lăn ra đường gào 
Hết năm rồi quần áo mỏng manh 
Ai ngờ đến lúc tử biệt 
Mà còn thương nhau rét! 
Lần này đi chắc chắn không trở về 
Vẫn còn nghe khuyên nhau cố ăn thêm 
Nơi Thổ Môn thành luỹ rất vững 
Thành Hạnh Viên cũng khó vượt qua 
Hình thế không giống như ở dưới thành Nghiệp 
Dù có chết cũng còn lâu 
Đời người có tan có hợp 
Kể gì tuổi trẻ hay già ? 
Nhớ lại đương thì trai tráng 
Băn khoăn rồi lại thở dài 
Muôn nước đều có chiến tranh đồn thú 
Lửa báo động bốc khắp núi gò 
Thây chất làm tanh hôi cây cỏ 
Máu chảy nhuộm đỏ sông ngòi đồng ruộng 
Còn quê hương nào là đất yên vui 
Mà còn dám chần chừ nữa? 
Dứt bỏ nơi ở tranh pheo này 
Rời rã như nát cả gan phổi!


(Năm 759) 

Ba bài thơ Tân hôn biệt 新婚別, Thuỳ lão biệt 垂老別 và Vô gia biệt 無家別 được gọi là Tam biệt 三別.












Hoàng Hạc lâu 黃鶴樓 • Lầu Hoàng Hạc

Thôi Hiệu


  


Hoàng Hạc lâu 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch nghĩa 

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!


Lầu Hoàng Hạc ở phía tây nam thành Vũ Xương. 


Bản dịch của Ngô Tất Tố


Người xưa cưỡi hạc đã lên mây, 
Lầu hạc còn suông với chốn này. 
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn 
Ngàn năm mây bạc vẩn vơ bay. 
Vàng gieo bên Hán, ngàn cây hửng 
Xanh ngắt châu Anh, lớp cỏ dày. 
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ? 
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây!

Bản dịch của Tản Đà


Hạc vàng ai cưỡi đi đâu? 
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ. 
Hạc vàng đi mất từ xưa, 
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay. 
Hán Dương sông tạnh cây bày, 
Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ non. 
Quê hương khuất bóng hoàng hôn. 
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?








Tĩnh dạ tứ 靜夜思 • Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh

Lý Bạch

  


Tĩnh dạ tứ 

Sàng tiền minh nguyệt quang, 
Nghi thị địa thượng sương. 
Cử đầu vọng minh nguyệt, 
Đê đầu tư cố hương.

Dịch nghĩa 

Đầu tường trăng sáng soi, 
Ngỡ là sương trên mặt đất. 
Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng, 
Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà.


Thuở nhỏ, Lý Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng. Từ năm 25 tuổi, ông đã xa quê và xa mãi. Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà.